Kính thưa Thầy!
Con có một câu hỏi này rất mong được Thầy chỉ dạy cho con được biết ạ. Con luôn cố gắng chánh niệm tỉnh giác trong mọi lúc mọi nơi, để các pháp đến đi tự nhiên và chỉ quan sát (kiểu như có 2 tâm). Chánh niệm như vậy đã đủ điều kiện để ngồi Thiền Tuệ chưa ạ? Do con sợ tẩu hoả nhập ma nên chưa dám ngồi thiền bao giờ. Con cảm ơn Thầy, chúc Thầy luôn mạnh khoẻ và an lạc.
Đi, đứng, nằm hay ngồi chỉ là động tác của thân, thiền thuộc về tâm chứ không phải thân. Nếu con có thể thiền khi đi thì sao không thiền khi ngồi được? Nhớ là thiền khi ngồi chứ không phải ngồi thiền.
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Con cảm ơn vì lời nhắc nhở quý giá của Thầy.
Trả Kinh lại cho Kinh
Về chiêm ngoạn chính mình
Không tìm cầu mong đợi
Thấy pháp vốn vô sinh.
(Lời của Thầy)
Sādhu lành thay! Đó mới là thái độ học đạo chân chính.
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Tối ngày 7/7/16 vừa rồi ở Hà Nội con có nghe Thầy giảng, câu hỏi cuối của một thiện nam xin ý kiến Thầy về một phái tu ở Thái Lan mệnh danh là AHOSI, con nghe Thầy chỉ nêu kinh Kalama đức Phật dạy đừng vội tin và đừng vội bỏ, mà nên xem cách tu đó có đúng Bát Chánh Đạo không, vì ở đâu không có Bát Chánh Đạo ở đó không có giải thoát giác ngộ. Nhưng khi đọc trên facebook thấy anh TĐ tóm tắt lời giảng của Thầy có vẻ như phản đối cách tu AHOSI. Vậy con xin Thầy nói lại tóm tắt nội dung giải đáp hôm đó để những Phật tử không nghe bài giảng không hiểu lầm Thầy. Con xin cảm ơn thầy.
Hôm đó thầy trả lời câu hỏi về trường phải AHOSI như sau:
– Nhắc lại lời Phật dạy trong Kinh Kalama là đừng vội tin cũng đừng vội bác bỏ điều gì. Cần thể nghiệm thực tế để xem điều đó có đúng với Sự Thật (Pháp) hay không, và nhất là có đúng với chân lý Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo hay không. Về lý thuyết thì phái AHOSI có nhiều điều rất hay, tuy nhiên về cách thể hiện thì vẫn là phương pháp như bao nhiêu phương pháp chế định khác nên tuy cũng nói “không, vô tác, vô cầu” nhưng không tránh khỏi “hữu tướng” và vô tình hình thành tông môn riêng biệt và tất nhiên khi đã có tướng tông môn thì chỉ thích hợp với những người có trình độ thích ứng, nhưng đối với người khác thì có vẻ cầu kỳ. Vậy dù thế nào thì mỗi người vẫn phải trở về giác ngộ chính mình là điều tối hậu.
– Liên quan đến vấn đề buông xả tất cả nghiệp, thầy có nhắc rằng nghiệp là quá trình giúp mỗi người điều chỉnh nhận thức và hành vi qua thấy biết và khám phá sự thật. Khi đã trải nghiệm và thấy ra sự thật thì đương nhiên nghiệp được buông xả hoàn toàn, nhưng khi chưa thấy ra sự thật thì không thể buông nghiệp mà cần phải học hỏi qua trải nghiệm với tri kiến thanh tịnh mới giác ngộ giải thoát được. Ví như bậc Vô Học (A-la-hán) thì đương nhiên buông bỏ gánh nặng xuống rồi, còn ngay cả bậc Hữu Học (từ Tu-đà-hoàn đến A-na-hàm) cũng không thể không tiếp tục học được (trong buổi giảng thầy lấy ví dụ một học sinh khi chưa đỗ đạt thì chưa thể bỏ việc học). Hơn nữa buông là buông thái độ chủ quan trong tâm chứ không phải buông bỏ điều gì bên ngoài.
– Liên quan đến việc tha thứ và xin được tha thứ, thầy thấy điều đó rất tốt nhưng thầy nói cách khác là sám hối và tri ân. Sám hối vì mình đã từng nhận thức và hành vi sai lầm làm tổn hại đến rất nhiều người, vật và môi trường sống. Tri ân vì người hại mình cũng chính là người giúp mình buông bản ngã, đồng thời phát huy trí tuệ và đạo đức. Trí và đức (minh và hạnh) vốn đã tiềm ẩn bên trong mỗi người, nhờ nghịch cảnh, nghịch nhân mới phát huy được cho nên không phải tha thứ mà còn tri ân nghịch cảnh, nghịch nhân mới đúng. Trong từ tha thứ dường như vẫn có điều gì đó chưa ổn về mặt dụng ngữ.
Vì lúc đó đã hết giờ nên thầy đã chấm dứt buổi giảng với nội dung như trên.
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Thầy kính quý.
Khi nhận ra tánh biết giữa những phiền não của cuộc đời, con mới hiểu những lời dạy sâu sắc của Thầy trong bài thơ Chân Huyễn:
Thế gian ơi, đời vẫn là cuộc lữ
Bước đi – về như huyễn cũng như chân
Thấy Niết-bàn trong sinh tử phù vân
Ai ngờ được bờ mê là bến giác!
Con quỳ dưới chân Thầy xin đảnh lễ với tấm lòng tri ân vô hạn.
Sādhu lành thay! Thấy ra được điều này thật kỳ diệu con nhỉ. Chúc mừng con!
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Bạch Thầy!
Thầy có thể giải thích giúp con, sao có những điều về pháp, chân lý, sự thật… đối với con thì rất dễ hiểu nhưng khi con giải thích với một ai đó thì thật sự khó khăn. Con không tham để cố giải thích với một ai mà là con thấy duyên tới thì con nói nhưng quá khó để giải thích với một ai đó một sự thật hiển nhiên.
Sự thật vốn vô ngôn, dễ cảm nhận trực tiếp hơn là giải thích bằng ngôn ngữ. Trong khai thị của đức Phật, ngôn ngữ chỉ đóng vai trò phụ, chính yếu là tâm Phật và tâm người nghe khế hợp, đồng thời cũng phải đúng lúc, đúng chỗ nữa mới được.
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Kính bạch Thầy!
Vấn đề của con là tại sao khi hành thiền lại bị mất kiểm soát thân và tâm. Nói, cười, khóc đan xen nhưng lại không biết. Vậy thì có pháp đối trị không và thoát ra khỏi tình trạng này như thế nào mà không cần đến bệnh viện tâm thần. Trường hợp này có phổ biến đối với hành giả tu thiền không?
Kính tri ân!
Cách tốt nhất là con ngưng ngay hành thiền lại và mở Pháp Thoại hướng dẫn thiền nghe cho hiểu rõ rồi mới hành. Con bị như vậy là vì tâm bị dồn nén quá mức khi cố gắng định tâm.
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Kính bạch Thầy!
Thưa Thầy, đối với giáo lý Đức Phật thì con hoàn toàn tin tuyệt đối, nhưng còn 1 điều làm con nghi hoặc và con nghĩ cũng có nhiều người thắc mắc như con, nên hôm nay con trình câu hỏi này mong Thầy giải đáp cho chúng con ạ.
Con được nghe thầy giảng Thiền Tông phát huy lại giáo lý Nguyên Thủy của Phật Giáo, bên Thiền Tông hay dùng từ “Phật tánh”, theo con hiểu thì đó là “tánh biết” mà Thầy hay dạy. Thiền Tông dạy tất cả chúng sanh điều có Phật tánh (tánh biết), Phật tánh vốn thanh tịnh sáng suốt nhưng do “nhất niệm vô minh” khởi lên mới thành chúng sanh luân hồi trong sanh tử, vậy con thắc mắc trước khi hình thành chúng sanh và thế giới thì tất cả chúng sanh điều là Phật sao, mà do “nhất niệm vô minh” khởi lên mà thành chúng sanh đi trong luân hồi.
Con thấy điều này là vô lý, đã có Phật tánh thanh tịnh sáng suốt thì sao có thể bị vô minh che mờ được để đi trong luân hồi, vậy Đức Phật chúng ta đã thành Phật có khi nào Ngài cũng lại “nhất niệm vô minh” để tiếp tục thành chúng sanh mà đi trong luân hồi và cứ tiếp tục như vậy. Vì vậy mà con biết bên phật giáo Nguyên Thủy không tin có “Phật tánh”, nhưng nếu không thừa nhận tất cả chúng sanh đều có Phật tánh (tánh biết) mà “Phật tánh (tánh biết)” tu mới có thì theo giáo lý nhà Phật “Phật tánh (tánh biết)” ấy do duyên hợp mà có thì sẽ bị vô thường, vậy sao có thể thành Phật thoát khỏi luân hồi sanh tử, sao có Niết-bàn?
Đây là thắc mắc bấy lâu nay của con, mong Thầy từ bi hoan hỷ giải đáp cho con ạ!
Con đã hỏi một câu tương tự (về tự ngã, vô ngã, Niết-bàn…) và thầy đã trả lời rồi. Điều này con KHÔNG BAO GIỜ hiểu bằng lý trí được đâu, cứ BIẾT thôi con sẽ tự THẤY rất dễ dàng.
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Con xin thành kính đảnh lễ thầy tôn kính.
Thưa thầy xin thầy cho con được nói lên cái hiểu của con về câu nói của thầy: “Tu là một quá trình điều chỉnh nhận thức và hành vi”. Ở bài trình pháp trước thầy nói con hiểu đúng nên con có tự tin hơn, con xin cám ơn thầy. Bài trình pháp này con muốn chia sẻ trải nghiệm tu tập của con với bạn đạo với hy vọng sẽ hữu ích. Nếu con viết có chỗ nào sai xin thầy điều chỉnh giúp con.
Con xin đặt ra 2 vấn đề:
Vấn đề 1: Tại sao phải điều chỉnh nhận thức và hành vi?
Vấn đề 2: Ai điều chỉnh và điều chỉnh như thế nào?
Con xin trình bày:
Nhận thức và hành vi có 2 trường hợp, trường hợp thứ nhất là nhận thức và hành vi của người đã giác ngộ. Nhận thức và hành vi này khi ứng ra đời sống là tùy duyên thuận pháp vô ngã vị tha. Trường hợp thứ 2 là nhận thức và hành vi của bản ngã. Hay nói dễ hiểu hơn đó là nhận thức và hành vi của người chưa thấy ra sự thật. Loại nhận thức hành vi này là nguyên nhân của phiền não khổ đau, thông thường biểu hiện dưới 4 dạng: Tưởng là, cho là, phải là, sẽ là.
Một người sống trong xã hội phần đông ai cũng hiểu được các giá trị đạo đức, pháp luật, văn hóa xã hội và đặc biệt là những người tin và hành theo những chuẩn mực tôn giáo mà họ tin tưởng. Tuy nhiên nếu nhìn sâu hơn con thấy hầu như mọi người qui y chính bản ngã của mình. Cho nên kết quả là hiểu theo ý mình và hành theo ý mình. Từ đó dẫn đến những quan điểm đạo đức bất đồng. Như vậy không thể dựa vào những khuôn mẫu đạo đức có sẵn, những khuôn mẫu đạo đức ấy cho dù là chân lý đi nữa thì mình cũng sẽ nhào nặn chân lý ấy theo kiểu bản ngã cho là.
Con có một cách để nhận diện được thế nào là nhận thức đúng và hành vi đúng. Nhận thức và hành vi nào mà không đem lại phiền não khổ đau mà chỉ giác ngộ giải thoát thì nhận thức và hành vi đó hợp với đạo, thuận pháp. Tóm lại nhận thức đúng và hành vi đúng chỉ có thể tìm thấy nơi chính mình, tự mình trải nghiệm và thấy ra.
Vấn đề còn lại là ai điều chỉnh và điều chỉnh như thế nào? Nếu bản ngã điều chỉnh (Tôi tu) thì khuynh hướng sẽ là hướng thiện, đạo đức theo một chuẩn mực nào đó. Ngược lại nếu không có ai điều chỉnh và không có phương pháp điều chỉnh thì đó là pháp tự vận hành, nói dễ hiểu hơn là không có cái bản ngã (tôi tu) chen vào thêm thắt mà tánh biết tự thấy pháp và đặc biệt là tánh biết tự điều chỉnh.
Vấn đề tánh biết (Vô ngã) điều chỉnh dễ nhận diện nhất là khi cuộc sống mỗi người gặp phải những nghịch cảnh, khó khăn thì lúc này là lúc nhận diện mọi sự mọi việc từ trong ra ngoài rõ ràng nhất. Bên ngoài là sự việc đang xảy ra, bên trong là phản ứng nội tâm của lý trí (bản ngã): Đánh giá sự việc bằng những phán đoán mù mờ, lo lắng, bất an, tim đập mạnh, tìm cách này hay cách khác để giải quyết vấn đề và xử lý nhanh tình trạng tâm khó chịu… Với con lúc này chỉ cần làm một việc là buông cái bản ngã (lý trí) xuống đừng tin vào nó, hãy nhường chỗ cho tánh biết soi sáng từ trong ra ngoài. Nghĩa là thấy nội tâm đang phản ứng trước hoàn cảnh như thế nào, thấy nội tâm thì cũng sẽ thấy hoàn cảnh, khi thấy rõ rồi thì tâm sẽ tự an, khi tâm an thì mới nhận thức đúng, khi nhận thức đúng thì sẽ tư duy đúng. Trong tiến trình này cần phải nhẫn nại vì có hoạt động của bản ngã thì sẽ có phiền não khổ đau nhưng điều đó không là gì cả khi tánh biết phát hiện ra tiến trình tâm này chỉ là ảo, chỉ là thói quen, chỉ là tự mình trói buộc mình. Khi phát hiện ra thì rõ ràng không còn bị bản ngã đánh lừa và tất yếu sẽ chuyển hóa nhận thức và hành vi trên vấn đề đó, sự việc đó.
Tóm lại tu đúng là không có ai tu và không có phương pháp nào có thể áp dụng cứng ngắc mà chỉ có tánh biết tự thấy ra và tự chuyển hóa. Ngoài ra con cũng có một cách để nhận diện lúc nào là bản ngã hoạt động và lúc nào là tánh biết tự vận hành. Có một ý khởi lên mà chủ quan thì đó là bản ngã hoạt động, khi không có ý nào khởi lên mà vẫn thấy biết thì là tánh biết hoạt động, trên sự thấy biết thực đó mà tư duy thì đó là chánh tư duy.
Bài viết dài quá phải không thầy? Xin thầy hoan hỷ đừng trách con. Con chúc thầy luôn mạnh khoẻ.
Bạch Thầy!
Khi một niệm khởi lên làm sao phân biệt được đó là vọng niệm hay là chánh tư duy?
Có phải niệm nghĩ chuyện quá khứ, tương lai là vọng? Và niệm mang lại lợi ích cho mọi người là chánh tư duy?
Xin Thầy từ bi chỉ dạy.
Niệm hoặc tư duy mang nội dung dục, sân và hại là vọng niệm hay vọng tưởng. Niệm hoặc tư duy mang nội dung ly dục, vô sân, bất hại là chánh tư duy.
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Kính thưa Thầy!
Qua sự hướng dẫn của con trai con con mới biết có trang Trung Tâm Hộ Tông giải đáp những điều liên quan đến Phật Pháp. Nay con có một điều muốn hỏi, trước tiên con xin lỗi vì trình độ con có hạn, chỉ học hết lớp 6 mà thôi, nếu nói không được rõ ràng xin Thầy thứ lỗi cho. Hiện nay hàng đêm con đều không ngủ được, do sau 23 ngày giải phẩu cột sống bị thoái hóa. Xin Thầy vui lòng chỉ dẫn cho con theo nguyên lý Phật pháp.
Thành thật cảm tạ Thầy!
Có thể do lo lắng mà mất ngủ. Đừng lo lắng, nên nằm buông thư cho thân tâm thật thoải mái, khi thân tâm thoải mái thì sẽ dễ ngủ mà dù không ngủ thì vẫn bổ ích hơn khi ngủ trong trạng thái bẩt an.