Kính thưa thầy,
Con có nhân duyên được nghe và đọc tụng kinh Thủ Lăng Nghiêm. Qua sự cảm nhận của con thì đức Phật đã từ bi chỉ dẫn con đường trở về Diệu Tâm thông qua tánh nghe, tánh thấy, tánh biết. Con đường tu tập nhân lại chứ không qua pháp môn, có phần giống như pháp tu mà thầy đang hướng dẫn chúng con. Nhưng con cũng có nghe kinh Thủ Lăng Nghiêm là kinh phát triển, không thuộc kinh Nguyên Thủy và có một số nhà sư thuộc hệ phái Nguyên Thủy không chấp nhận kinh Thủ Lăng Nghiêm, cho là kinh ngoại đạo không phải do đức Phật thuyết. Nay con xin thầy từ bi khai thị cho con hiểu thêm cách nhìn của thầy về bộ kinh này và giúp con hiểu do điểm vi tế nào mà nhiều người lại cho kinh Thủ Lăng Nghiêm không do Phật thuyết ạ? Con xin cảm tạ thầy.
Trước hết thầy đính chính là những điều thầy thuyết không xuất phát từ Kinh Lăng Nghiêm mà do thầy tự khám phá phát hiện và hoàn toàn phù hợp với Kinh Nguyên Thủy. Trong Kinh Tăng Chi 1.10 đức Phật dạy rằng tâm vốn trong sáng (pabhassara citta) nhưng kẻ phàm phu không biết tâm này nên để cho cấu uế từ ngoài vào làm cho ô nhiễm, bậc thánh trí biết được tâm này nên không để cấu uế từ ngoài vào làm cho ô nhiễm. Trong Kinh Tiểu Bộ đức Phật cũng dạy rằng vì có cái không sinh, không hữu, không tác, không thành nên mới có thể thoát được sinh, hữu, tác, thành. Do đó một vị giác ngộ mới trở về với tâm vô sinh ấy mà được gọi là bậc Alahán. Hơn nữa, căn bản lời dạy của chư Phật là: “Không làm các điều ác, làm các điều lành và giữ tâm thanh tịnh”. Tâm thanh tịnh này không do ai tác thành mà chính là cái tâm vô sinh, vô ngã và chiếu sáng (pabhassara citta) đó. Như vậy, tu tập có nghĩa là xả ly cấu uế từ ngoài vào thì tâm sẽ tự chiếu sáng như bầu trời không mây thì mặt trời tự chiếu sáng, chứ không phải do bản ngã hữu vi tạo tác ra một Thánh tâm nào khác.
Thầy đọc Kinh Lăng Nghiêm từ hồi nhỏ nên bây giờ còn không nhớ chi tiết kinh ấy nói gì, chỉ nhớ đại khái là kinh ấy luận về Tâm mà thôi. Kinh này có thể có trước hoặc cùng thời với Phật Giáo Đại Thừa, viết bằng tiếng Sanskrit, mà Sanskrit có sau tiếng Pāli của đức Phật hơn 200 năm (theo nghiên cứu khảo cổ của cuốn Pāli is the Mother of Sanskrit), như vậy kinh này được một vị Tổ nào đó biên soạn vào khoảng 200 đến 600 năm sau Phật lịch. Tất nhiên Lăng Nghiêm không phải là do Phật thuyết mà do vị Tổ ẩn danh nào đó biên soạn, nhưng cũng không phải là của ngoại đạo như một số vị nghĩ, vì nội dung vẫn có nhiều điều đáng học hỏi chiêm nghiệm. Có điều do nhiều người hiểu lầm Chân Tâm Diệu Tánh nói trong kinh Lăng Nghiêm là “cái tâm thường hằng bất biến của ta” nên rơi vào 2 tà kiến là Ngã Kiến và Thường Kiến trong khi cái Tâm Chiếu Sáng Pabhassara Citta mà đức Phật dạy là không sinh, không hữu, không tác, không thành nên là vô vi, vô ngã, không thường, không đoạn. Có lẽ do hiểu Chân Tâm thành thường kiến, ngã kiến như vậy nên mới bị xem là ngoại đạo. Tất cả kinh nguyên thủy hay phát triển đúng đắn đều nói về chân lý vốn sẵn nơi mỗi người nên tốt nhất là khi đã hiểu ý kinh thì mỗi người nên tự khám phá sự thật nơi chính mình hơn là y cứ vào kinh luận (như đức Phật đã cảnh báo người xứ Kalama).
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Con kính chào Sư Ông,
Sáng nay trong lớp con có bạn đem một cái điện thoại lên lớp hỏi có ai muốn mua thì bạn ấy bán 200 ngàn. Con rất thích mua và tiền để dành của con cũng đủ nữa. Nhưng con nghe một bạn khác mách nhỏ cho con biết là bạn kia lấy cắp của người nhà cái điện thoại đó nên con suy nghĩ hoài suy nghĩ mãi và cuối cùng con đã không mua, vì con sợ lây tội ăn cắp của bạn ấy. Con kể lại thì ba mẹ con nói con đã làm đúng nhưng anh con thì bảo muốn thì cứ mua, mình có lấy cắp của ai cái gì đâu mà phạm tội. Sư Ông giảng cho con hiểu rõ về việc này nha Sư Ông. Con cảm ơn Sư Ông.
Xem câu trả lời
Giới thứ hai trong năm giới là “không lấy của không cho” nghĩa là vật có chủ mà chủ không cho thì không được lấy, nếu muốn lấy và lấy ra khỏi chỗ của nó là đã phạm giới rồi. Trong trường hợp con mua lại một vật người ta rao bán thì không phạm tội trộm cắp, tuy nhiên, vật không biết rõ lai lịch thì nên cẩn thận đừng vội mua, nếu con biết chắc vật đó do trộm cắp mà có thì không nên mua vì như vậy là vô tình khuyến khích bạn ấy ăn cắp của người khác. Có điều con không nên khinh miệt bạn ấy dù biết bạn ấy lấy cắp thật sự, biết đâu bạn ấy có hoàn cảnh riêng của mình, cho dù bạn ấy có xấu đi nữa thì cũng đáng thương và chỉ có thương yêu thông cảm mới giúp bạn ấy chuyển hóa được mà thôi. Ai cũng có lúc lầm lỡ, nên giúp họ chuyển hóa hơn là khinh miệt, huống chi chưa hẳn bạn ấy đã ăn cắp như lời đồn. Thận trọng vẫn là hơn.
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Kính bạch thầy, hàng ngày nếu có thời gian rảnh con thường hay tụng kinh Tam Bảo và ngồi thiền. Ở bên này không có chùa Nguyên Thủy nên con thờ Tam Bảo ở nhà. Thời gian rảnh rỗi, thay vì đi chơi thì con ở nhà tụng kinh, sau đó ngồi thiền. Những hành động này có phước báu gì không hay là mình phải đến chùa làm trai Tăng, cúng dường, công quả… mới có phước báu? Xin thầy chỉ dạy dùm con, con xin thành kính đảnh lễ thầy.
Xem câu trả lời
Phước có nhiều cách thể hiện như: Bố thí, trì giới, tham thiền, cung kính, phục vụ, thuyết pháp, nghe pháp, hồi hướng công đức, tùy hỷ công đức, điều chỉnh nhận thức cho đúng. Hoặc 10 điều thiện cũng là nhân sinh phước như: Không sát sinh, không lấy của không cho, không tà hạnh, không nói dối, không nói chia rẻ, không nói lời ác, không nói vô ích, không tham, không sân, không tà kiến. Như vậy, nếu con không đi chùa nhưng làm được những phước thiện trên thì vẫn có phước đức.
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Kính thưa Thầy, mỗi lần con muốn cúng dường cho chư Tăng thì trong đầu con lại khởi lên tư tưởng: “Sao không để tiền đó cho cha mẹ?”. Vì vậy, con luôn gặp trở ngại mỗi khi cúng dường Tam Bảo. Kính mong Thầy hướng dẫn con phải suy nghĩ và làm thế nào là đúng pháp nhất và có lợi cho cả Tam Bảo cùng cha mẹ con? Con xin thành kính tri ân Thầy.
Xem câu trả lời
Nếu cha mẹ nghèo khó, bệnh hoạn thì phụng dưỡng cha mẹ là điều cần thiết, không nhất thiết phải cúng dường Tam Bảo. Cách cúng dường Tam Bảo hay nhất là tu tập Bát Chánh Đạo. Tuy nhiên nếu cha mẹ khá giả và mạnh khỏe thì nên tạo điều kiện cho cha mẹ biết bố thí, trì giới, tham thiền, nghe pháp v.v… mới là hiếu thảo hơn cả phụng dưỡng bằng tiền tài.
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Kính bạch Thầy!
Con xin mạo muội gởi câu hỏi này vì con vô cùng bế tắc, không biết tìm giải pháp nơi đâu.
Thưa Thầy, em gái của con trong quá trình đi tìm hiểu Phật Pháp, không hiểu sao em trở nên “Tẩu hỏa nhập ma”, trầm cảm và tâm thần, lúc nào cũng cho là có vong linh nhập vào người. Con chỉ biết đưa em vào viện tâm thần và uống thuốc. Đến nay hơn một năm mà bệnh tình càng trầm trọng hơn.
Con kính mong Thầy từ bi cứu giúp để em con trở lại bình thường.
Con ngày đêm mong đợi và thành tâm kính chúc Thầy luôn mạnh khỏe!
Xem câu trả lời
Bệnh tâm thần xuất phát từ 3 nguyên nhân: Thần kinh bị suy yếu, tâm lý bị tổn thương và bị ảnh hưởng bởi ngoại lực (tà nhập). Nếu bệnh do thần kinh bị suy yếu hay thương tổn thì chữa bằng thuốc. Nếu bệnh do tâm lý thì nên biết nguyên do để tìm cách giải tỏa. Nếu bệnh do tà nhập vì nghiệp oan trái thì nên làm phước hồi hướng cho vong được đi tái sinh. Nếu bệnh do tâm lý hay tà nhập mà đưa vào nhà thương tâm thần và dùng thuốc quá mạnh để trấn áp thì không những không khỏi mà còn nặng thêm. Nói chung phải biết nguyên do cụ thể mới được.
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Kính bạch Thầy!
Lần đầu tiên trong đời, con được dự lễ dâng y Kathina long trọng, trang nghiêm như vậy. Đầu đội y, lễ vật nhiễu Phật ba vòng quanh toà Bảo Tháp, con thấy mình vui lạ lùng mặc dù mỏi tay chịu không nổi, do ham dâng lễ vật đầy đủ nên con gói quà hơi nặng. Khi nhìn Thầy bước vào toà Bảo Tháp, trong con dâng lên niềm xúc động mãnh liệt muốn bật khóc thành tiếng! Con vui quá trong niềm vui được gặp Chánh Pháp qua sự dẫn dắt của vị Chân Sư mà con đã ước nguyện. Mỗi khi nghe tiếng kinh Pali vang lên trong buổi lễ, con cảm nhận âm thanh hùng hồn vi diệu nằm trong thân thể con, trong đầu, trong tim con vọng ra chứ không phải bên ngoài. Con như quyện vào từng âm thanh này. Con nhắm mắt lại tận hưởng nó, và lại xúc động rơi nước mắt nữa…
Hôm trước con có hỏi Thầy đăng ký làm thí chủ dâng y, mà nghe Thầy nói năm 2025 mới tới lượt, con sợ thời gian lâu quá. Cuộc sống vốn vô thường nên con không chắc đến ngày đó con có thực hiện được lời nguyện này không, nhưng khi đến tham dự buổi lễ, thấy gia đình thí chủ có 5 người tham dự nên con hoan hỷ quá quyết định đăng ký ngay, cộng thêm câu chuyện Thầy kể cô Thí Chủ năm 2014 này làm con hoan hỷ hơn không phải lo ngại gì nữa. Nếu vô thường đến với con thì cha, mẹ, chồng, em con vẫn thay mặt con làm Thí Chủ được, ngay sau đó con đăng ký với cô Như Nguyện luôn Thầy ạ. Mong rằng đến năm đó buổi lễ Kathina được trọn vẹn có Thầy, có chúng con như hôm nay.
Thầy ơi, dạo này con hay xúc động lắm, nhất là khi nghe bài pháp hay, nghe sách nói đến lúc ngài Sariputta nhập Niết-bàn, con cũng ngồi bật khóc nức nở như đang chứng kiến sự việc đó vậy. Con thấy tâm con dễ vỡ tan, khóc oà khi đọc đến phạm hạnh cao quý các vị Thánh Thinh Văn thời Đức Phật trong cuốn Suối Nguồn Diệu Giác. Con thấy được thân, tâm mình lặng lẽ, nhẹ nhàng, hay tác ý khi tiếp xúc với cảnh, thấy được tâm rỗng lặng, tỉnh thức, đầu óc sáng suốt, định tĩnh hơn trước một cách tự nhiên, và đôi khi vẫn thấy mình còn dễ duôi, còn tham, sân, si, tự ngã và cũng nghiêm khắc loại bỏ nó dần dần.
Dạo này con ham đọc sách chú giải Kinh Pháp Cú, Đức Phật và Phật Pháp, Suối Nguồn Diệu Giác, Con Gái Đức Phật, không đọc các sách thiền nữa. Các bài Pháp trên trang web Thầy con nghe một cách tự nhiên, không cố gắng phải hiểu từng lời. Con đang tìm sách, đĩa học Vi Diệu Pháp để tự phân tích tâm mình, có cần thiết không Thầy?
Từ ngày thực hành theo pháp Thầy hướng dẫn, con thấy được tâm trí mình rộng mở, đón nhận những gì đáng nhận, tập buông bỏ những gì đáng bỏ để khỏi dính mắc về sau, mới thấy bản ngã mình còn cao, còn tham dục, còn dính mắc…
Xin Thầy giải thích dùm con, chữ Trí và chữ Tuệ trong nhà Phật khác nhau như thế nào, vì mọi người thường dùng chung từ Trí Tuệ. Pháp danh Pali của con là: Nãnagavesi nghĩa là gì vậy Thầy?
Con kính chúc Thầy Pháp thể khinh an.
Con Phuong Dung.
– Sādhu lành thay! Cảm xúc của con giống với hỷ lạc trong thiền định, nhưng thực ra trong tín tâm hay thành tâm với một “cảm ứng đạo giao” tự nhiên vẫn có hỷ lạc này. Với cảm xúc đầy hỷ lạc như thế con đọc kinh sách lúc này là rất tốt.
– Vi Diệu Pháp thì con chỉ cần học cương yếu thôi chứ không nên ham đi vào chi tiết quá chỉ là góp nhặt kiến thức qua tưởng tri. Khi đã nắm được cương yếu con có thể tự khám phá dần chi tiết ngay nơi thực tại thân – thọ – tâm – pháp trong đời sống thực tế hàng ngày, đây mới là tri kiến thực qua trải nghiệm của tuệ tri.
– Ñānagavesī có nghĩa là người đang tìm kiếm trí tuệ. (Động từ gavesati là tìm tòi, danh từ gavesī là người đang tìm tòi, còn ñāna là trí tuệ). Hiện nay nhiều người dịch Pāli ra Việt chưa phân biệt rõ ràng giữa trí (ñàna) và tuệ (paññā) nên thường dùng lẫn lộn. Có thể tùy theo ngữ cảnh mà nghĩa giống nhau hay khác nhau. Cả hai từ đều có chung một ngữ căn ñā nghĩa là biết. Cái biết của ñāna là biết chi tiết về pháp thực tánh nên gọi là trí, nếu thêm tiếp đầu ngữ pa thành paññā thì đó là cái biết toàn diện về pháp thực tánh nên gọi là tuệ. (Nếu thêm tiếp đầu ngữ vi thành viññāna thì đó là cái biết của thức tri, nếu thêm tiếp đầu ngữ sam thành saññā thì đó là cái biết của tưởng tri)
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Con thưa thầy, con viết thư xin được nhờ thầy chỉ bảo cho con. Thời gian gần đây con thường xuyên quán tâm ý mình khi mình đang làm những việc hàng ngày hoặc nhìn thấy mọi việc hàng ngày, và con nhận ra là con có quá nhiều suy nghĩ chưa tốt, dù đó là suy nghĩ rất nhỏ nhưng xét kĩ ra con thấy rõ ràng đây là bản ngã xấu xa của mình biểu hiện một cách vi tế. Từ trước đến nay con cứ nghĩ mình cũng đã cố gắng làm điều tốt, nói việc tốt, nhưng khi phát hiện ra dưới vỏ bọc trong suy nghĩ của mình, che đậy dưới vỏ tốt đẹp lại là những ý thức về bản ngã vô cùng xấu, khiến con cảm thấy có phần choáng váng, xấu hổ và đau khổ, tự dằn vặt mình tại sao lại xấu như vậy. (ví dụ gặp người chịu đen đủi con thấy thương họ dù có thể giúp hay không giúp được gì cho họ nhưng rồi con vẫn thấy tâm mình khởi lên mừng thầm rằng may quá mình không phải là họ, không phải chịu cảnh như họ. Hoặc thấy người hơn mình con cũng mừng cho họ nhưng rồi vẫn có tâm ghen tị, rồi tự ti về bản thân một cách vô thức mà con không hề mong muốn. Sau khi như vậy thì con cảm thấy rất xấu hổ).
Con xin thầy chỉ cho con cách để thoát khỏi ý niệm xấu xa về bản ngã trong đầu, hoặc cách để con đối trị với chúng để thóat khỏi sự dằn vặt hàng ngày khi nhận ra mình vốn không tốt như mình đã lầm tưởng. Con xin thành kính đảnh lễ Thầy.
Xem câu trả lời
Thấy ra là tốt rồi. Cứ tiếp tục thấy thôi thì cái thấy mới vô ngã, nếu thấy với ý kiểm duyệt thì chỉ là bản ngã này đối kháng với bản ngã kia làm sao thấy vô ngã? Chính vì con muốn giải thoát nên quên giác ngộ, trong khi phải giác ngộ mới có giải thoát.
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Kính bạch Thầy!
Ngày nay con thấy có nhiều hội Phật tử tu hành theo lối “Phước Tuệ Song Tu”, vừa tu theo pháp môn Tịnh độ, vừa tu Thiền với ý nghĩ “trong đời này không giác ngộ được thì khi thân hoại sẽ cầu vãng sanh Tây Phương”. Cái lý này con thực sự không hiểu thế nào.
Và con được biết rằng điểm thù thắng khi tu theo Tịnh độ đó là “đới nghiệp vãng sinh”, dù người tu hành chưa phá được hết vô minh vẫn có thể chấm dứt luân hồi mà vãng sinh… Chuyện đó là thật hay cũng lại là phương tiện độ sinh của các bậc Chư Tổ, thưa Thầy?
Đây là những thắc mắc đã từ lâu trong con. Nay cúi xin Thầy từ bi, hoan hỷ chỉ cho con thấy cái lý chân thật để con có sự nhất hướng trong việc tu học.
Con thành kính đảnh lễ Thầy ạ!
Xem câu trả lời
Khi tâm bặt dứt niệm
Thấy trong ngoài rỗng rang
Ai tìm cầu phước tuệ
Ai còn mãi lang thang?
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Thưa sư cho con hỏi chánh niệm tỉnh giác có khác nhau không ạ, hay là cùng một ý nghĩa? Con kính đảnh lễ sư.
Xem câu trả lời
Chánh niệm là tâm trọn vẹn với thực tại, tỉnh giác là tâm trong sáng với thực tại. Hai tâm này có chung đối tượng và thường đi chung với nhau nhưng hoàn toàn khác nhau. Chánh niệm thuộc định phần, tỉnh giác thuộc tuệ phần. Do đôi lúc nói tắt nên chỉ nói niệm thân, niệm tâm v.v… mà bị hiểu lầm chánh niệm với tỉnh giác. Trên thực tế, khi nói niệm như vậy là bao hàm hai yếu tố chánh niệm và tỉnh giác khác nhau.
Ngày gửi:
Câu hỏi:
Kính bạch Tôn Sư,
Trong niềm hân hoan, khi con được tham dự lễ dâng y Kathina sáng nay tại Tổ Đình Bửu Long. Con thấy hình bóng chư Tăng thật là thanh cao và tôn kính biết bao. Lúc làm lễ thọ y, Tôn Sư đứng dậy trình trước đại chúng, Tôn Sư có y mới. Hình bóng ấy thật là giản dị, đơn sơ nhưng thắm đượm tình Đạo Pháp. Hình bóng của một người Cha lành cho chúng con noi theo.
Sau khi biết đến Phật giáo Nam truyền qua lời chỉ dạy của Tôn Sư và nhân duyên do con là Phật tử tu học trong môi trường Phật giáo Bắc truyền nên trong tận đáy lòng con, con thành tâm tri ân đến Tam Bảo – Phật, Pháp, Tăng ba ngôi báu bất khả tư nghì. Tự Tánh Giác ngộ, Tự tánh Thanh Tịnh và Tự tánh hòa hợp, trong lành. Ba ngôi báu tôn quí để chúng sanh quay về mà có suối nguồn an lạc nơi tại chính mình. Bằng đầy đủ các Pháp duyên phương tiện và tùy theo căn cơ, trình độ khác nhau của mỗi chúng sanh mà Chư Tăng – sứ giả Như lai – mang trọng trách thiêng liêng hoằng truyền chánh Pháp do Đức Đại Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni Phật đã chỉ dạy cho chúng sanh noi theo để đem lại sự an lạc, hạnh phúc cho mỗi người khi biết quay về nguồn cội.
Tùy theo căn cơ mỗi người mà Chư Tổ đã dẫn dụ nhiều Pháp duyên phương tiện khác nhau để chỉ dạy cho chúng sanh Chánh Pháp. Vào thời Đức Phật còn tại thế – thời Chánh Pháp mà bây giờ Phật giáo Nguyên Thủy đang truyền thừa – thật tuyệt vời những vị thời ấy là những bậc thượng căn. Do đó chỉ qua một câu kệ, hay lời nói mà Phật dạy thì liền trực nhận và đắc Thánh Quả. Qua đến thời tượng Pháp, chư Tổ dùng nhiều Pháp duyên phương tiện khác nhau để hướng dẫn nhưng tiêu biểu là Thiền tông, Mật tông và Tịnh Độ tông.
Mật tông thì dùng những những câu Chơn Ngôn để làm phương tiện dựa trên nguyên tắc tam mật tương ưng Thân, Khẩu và Ý. Thân thì trang nghiêm, khẩu thì trì Chơn ngôn và ý thì phải trong chánh niệm câu Chơn ngôn ấy. Và mỗi câu Chơn ngôn đều có công dụng riêng, ví dụ như Chơn ngôn Đại Bi khi trì thì có công dụng là hóa giải tâm sân của mỗi chúng sanh để về Tự Tánh Từ Bi mà mỗi người ai cũng có. Đức Chuẩn Đề Vương Bồ tát có 18 tay là tượng trưng cho 6 căn, 6 thức và 6 trần. Do đó, Chơn ngôn này có công dụng hóa giải những cấu nhiễm của căn, trần và thức để quay về Tự Tánh. Mỗi câu Chơn ngôn đều có công năng riêng biệt mà Chư Tổ đã chỉ dạy ngõ hầu chúng sanh phải biết sử dụng nhằm tẩy gội Tham, Sân và Si mà quay lại bổn gốc Tự tánh Giác Ngộ, Thanh Tịnh và Hòa Hợp, Trong Sáng mà tất cả ai ai cũng có. Nếu hành giả tu học không biết quay về thì sẽ rất dễ bị lầm đường lạc lối. Tịnh Độ Tông cũng vậy, Chư Tổ dạy ra nhiều Pháp môn niêm Phật để trở về nhất niệm, kế đến phải nhất Tâm và sau cùng là về lại Tự Tánh sẵn có của chính mình.
Qua đó, con vô cùng trân quí và tri ân đến chư Tổ, chư Tăng. Các Ngài vì hàng hậu học mà tạo ra nhiều Pháp duyên phương tiện khác nhau để dẫn chúng sanh biết quay về Bổn gốc.
Qua quá trình tu học, con có những thấy biết như trên. Kính mong Tôn Sư thùy từ chỉ dạy thêm cho con được tỏ tường.
Kính nguyện xin Tôn Sư từ bi trụ thế lâu dài. Kính chúc Tôn Sư Pháp thể khinh an mãi mãi là ngọn đèn Chánh Pháp soi sáng cho hàng chúng sanh chúng con.
Thành kính tri ân Tôn Sư.
Đúng như thế. Trong thời Đức Phật vì có nhiều bậc thượng căn, thượng trí nên Ngài chỉ thẳng vào chân lý có sẵn nơi mỗi người để họ tự chứng ngộ, đó là thời kỳ chánh pháp Nguyên Thủy của Đạo Phật, Về sau, chư Tổ Phật Giáo Phát Triển vận dụng phương tiện và biểu tượng cho phù hợp với căn cơ đại chúng để dẫn họ về với chơn tánh, từ đó bước vào thời kỳ tượng pháp mang tính Tôn Giáo. Nhưng thời nay Phật Giáo đã và đang có nguy cơ trở thành Tín Ngưỡng, tức là sử dụng các phương tiện thiện xảo ấy ngược với chánh hướng – không trở về chơn tánh mà dẫn dụ ra ngoài tìm cầu sở đắc không tưởng! Đó là lý do vì sao ngày nay nhiều người bắt đầu trở về tìm lại giáo pháp nguyên thủy của Đức Phật để tham cứu và tu học.